Xúc giác

Cảm giác ở da (xúc giác) The Cutaneous Senses

Cái mà chúng ta thường nghĩ về việc sờ chạm bao gồm một vài vài giác quan độc lập một phần: áp lực trên da, độ ấm, lạnh, đau, ngứa, rung, di chuyển dọc theo da, sự căng da. Những cảm nhận này phụ thuộc vào vài loại thụ cảm thể, như hình 4.24. Châm kim trên da sẽ có cảm giác khác với 1 cái chạm nhẹ, và cả 2 thứ đều khác với cảm giác bỏng vì mỗi cái kích hoạt các thụ cảm thể khác nhau. Về tổng thể, những cảm giác này được biết đến như là các giác quan cảm giác ở da/xúc giác (cutaneous sense), nghĩa là giác quan da. Chúng cũng được biết đến với tên gọi là hệ thống cảm giác – hệ thống cảm giác cơ thể (somatosensory system, body-sensory system).

Bạn đã bao giờ tự hỏi cảm giác ngứa hoạt động như thế nào? Nó có phải là một dạng sờ chạm, đau không? Ngứa phụ thuộc vào một loại thụ cảm thể đặc biệt, thủ cảm thể này gửi tín hiệu thông qua một con đường đặc biệt ở tủy sống. Ngứa thì không giống như đau. Thực tế thì đau kiềm chế ngứa. Nếu một bác sĩ gây tê vùng miệng của bạn để phẫu thuật răng, khi thuốc tê lắng xuống, các thụ cảm thể phụ trách cảm giác ngứa sẽ phục hồi trước khi thụ cảm thể đau và chạm. Nếu bạn cào một chỗ bị ngứa, bạn không cảm thấy sự cào đó và bạn không hết ngứa.

Cù lét lại là một cơ chế khác của giác quan cảm giác trên da. Bạn có tự hỏi rằng vì sao mình không thể tự cù lét chính mình không? Một số người có thể, chỉ một số ít thôi, đặc biệt là khi họ vừa mới thức dậy, nhưng không giống như một ai đó chọc lét họ. Lý do là vì cù lét yêu cầu sự bất ngờ. Khi bạn chuẩn bị chạm vào chính mình, một số phần nhất định trên não bộ xây dựng sự phản ứng dự đoán giống với sự kích thích thật sự. Khi bạn cố gắng cù chính mình, cảm giác không có sự bất ngờ.

Đau Pain

Đau là quan trọng vì lợi ích của chính nó và vì nó có liên quan đến trầm cảm và lo lắng. Trải nghiệm đau đớn là sự kết hợp giữa cảm giác cơ thể và phản ứng cảm xúc, phụ thuộc vào các vùng não khác nhau (Craig, Bushnell, Zhang, & Blomqvist, 1994; Fernandez & Turk, 1992). Một khu vực trong đỉnh vỏ não phản ứng với chính cảm giác. Vùng não phản ứng với khía cạnh cảm xúc – vỏ não vùng đai trước (anterior cingulate cortex) – cũng phản ứng với cảm xúc đau đớn khi nhìn người khác bị thương (Singer et al., 2004). Nỗi đau thể xác có thể dữ dội vào lúc này, nhưng nỗi đau tinh thần thì lâu dài hơn. Cố gắng nhớ lại cảm giác của bạn khi bị chấn thương. Sau đó, hãy cố gắng nhớ lại cảm giác của bạn trước cái chết của một người thân yêu. Hầu hết mọi người hồi tưởng cảm xúc đau đớn một cách mãnh liệt hơn (Chen, Williams, Fitness, & Newton, 2008).

Mọi người thường nói về “cảm giác bị tổn thương”. Đó chỉ là một câu nói, hay là nỗi đau buồn xã hội thực sự giống như đau thể chất? Nó giống như đau thể chất theo một vài cách. Đầu tiên, khi ai đó cảm thấy bị người khác từ chối, hoạt động sẽ tăng lên ở hồi đai trước (anterior cingulate gyrus), khu vực phản ứng với khía cạnh cảm xúc của cơn đau (Eisenberger, Lieberman, & Williams, 2003). Cảm xúc đau buồn dữ dội hơn, chẳng hạn như sau một cuộc chia tay yêu đương khó khăn, sẽ kích hoạt vùng cảm xúc đó và cả vùng liên quan đến cảm giác đau đớn (Kross, Berman, Mischel, Smith, & Wager, 2011). Thứ hai, bạn có thể giảm bớt cảm giác bị tổn thương bằng cách dùng acetaminophen (Tylenol®)! Các sinh viên đại học đã ghi nhật ký hàng ngày về những cảm giác bị tổn thương khi dùng acetaminophen hoặc giả dược. Những người dùng acetaminophen cho biết cảm giác bị tổn thương ít hơn và tần suất giảm khi họ tiếp tục dùng thuốc (De Wall và cộng sự, 2010). (Vì vậy, lần tới nếu bạn làm tổn thương cảm xúc của mọi người, đừng xin lỗi. Chỉ cần đưa cho họ một viên thuốc.)

Lý thuyết cánh cổng của nỗi đau The Gate Theory of Pain

Bạn đến gặp thầy thuốc vì cơn đau dữ dội, nhưng ngay sau khi thầy thuốc cho bạn biết vấn đề không có gì đáng lo ngại, cơn đau bắt đầu giảm dần. Bạn đã từng có trải nghiệm như vậy chưa?

Nhắc lại thuật ngữ giả dược từ Chương 2: Giả dược là một loại thuốc hoặc thủ thuật khác không có tác dụng quan trọng ngoài những hiệu quả mà mọi người mong đợi. Giả dược có ít tác dụng đối với hầu hết các tình trạng y tế, với hai ngoại lệ – đau và trầm cảm (Hróbjartsson & Gøtzsche, 2001; Wager et al., 2007). Trong một thí nghiệm, các sinh viên đại học đã được xoa một chất lỏng màu nâu nhạt có mùi lên một ngón tay. Trên thực tế, nó là một loại giả dược, nhưng người ta nói rằng nó là một loại thuốc giảm đau. Sau đó, họ bị véo một cách đau đớn vào ngón tay đó và một ngón tay của bàn tay kia. Họ liên tục báo cáo rằng ngón tay ít bị đau hơn khi dùng giả dược (Montgomery & Kirsch, 1996). Cách thức hoạt động của giả dược vẫn chưa rõ ràng, nhưng những kết quả này loại bỏ thư giãn đơn thuần như một lời giải thích, bởi vì thư giãn sẽ ảnh hưởng đến cả hai tay.

Vì những quan sát như vậy, Ronald Melzack và P. D. Wall (1965) đã đề xuất lý thuyết cánh cổng của cơn đau ( gate theory of pain), ý tưởng rằng các thông điệp về cơn đau phải đi qua một cánh cổng, có lẽ là trong tủy sống, có thể chặn các thông điệp đó. Có nghĩa là, các loại đầu vào khác sẽ đóng cánh cổng, ngăn các thông điệp về cơn đau truyền đến não. Nếu bạn tự làm mình bị thương, việc cọ xát vùng da xung quanh sẽ gửi thông điệp ức chế đến tủy sống, đóng các cổng đau. Các sự kiện dễ chịu hoặc mất tập trung cũng gửi đi những thông điệp gây ức chế. Ngược lại, một loạt các kích thích gây đau đớn sẽ gây ra cơn đau tại thời điểm đó và làm tăng phản ứng với các kích thích tương tự trong tương lai (Walters, 2009). Bạn có thể nói rằng bộ não học cách cảm nhận nỗi đau và khắc phục nó tốt hơn (xem ▼ Hình 4.25).

▲ Hình 4.25 Thông điệp đau từ da được chuyển tiếp từ tủy sống đến não. Theo lý thuyết cánh cổng của cơn đau, các tế bào tủy sống có thể chặn hoặc tăng cường tín hiệu. Các đường màu xanh lá cây biểu thị các sợi trục có đầu vào kích thích; đường màu đỏ chỉ ra các sợi trục có đầu vào ức chế.

Những cách để giảm đau Ways to Decrease Pain

Một số người hoàn toàn không nhạy cảm với nỗi đau. Trước khi bạn bắt đầu ghen tị với họ, hãy cân nhắc điều này: Họ thường tự làm bỏng mình bằng cách cầm vật nóng lên, bỏng lưỡi trên cà phê nóng, tự cắt vào mình mà không nhận ra hoặc cắn đứt đầu lưỡi. Họ không học cách tránh nguy hiểm và nhiều người chết trẻ (Cox và cộng sự, 2006)

Mặc dù chúng ta không nên loại bỏ hoàn toàn nỗi đau, nhưng chúng ta muốn hạn chế nó. Mất tập trung là một cách. Bệnh nhân sau phẫu thuật trong phòng có tầm nhìn dễ chịu ít phàn nàn về cơn đau, uống thuốc giảm đau ít hơn và hồi phục nhanh hơn so với bệnh nhân trong phòng không có cửa sổ (Ulrich, 1984).

Một số loại thuốc cũng làm giảm cơn đau. Endorphin là chất dẫn truyền thần kinh làm suy yếu cảm giác đau (Pert & Snyder, 1973; xem ▼ Hình 4.26). Thuật ngữ endorphin là sự kết hợp của thuật ngữ nội sinh endogenous (tự sản xuất) và morphin. Morphine, chất kích thích các xi-náp endorphin, từ lâu đã được biết đến với khả năng ức chế các cơn đau âm ỉ, kéo dài. Trải nghiệm thú vị, chẳng hạn như hoạt động tình dục hoặc âm nhạc ly kỳ, cũng giải phóng endorphin (A. Goldstein, 1980).

Nghịch lý thay, một phương pháp giảm đau khác lại bắt đầu bằng cách gây ra nó. Hóa chất capsaicin kích thích các thụ thể phản ứng với cảm giác nóng gây đau. Capsaicin là chất làm cho ớt jalapeños và các loại ớt tương tự có vị nóng. Chà xát capsaicin trên da tạo ra cảm giác bỏng rát tạm thời. Khi nó giảm bớt, da sẽ mất một số nhạy cảm với đau. Một số loại kem bôi da có capsaicin được sử dụng để giảm đau nhức các cơ. Liều cao capsaicin gây ra sự tích tụ canxi trong các thụ thể nhiệt, làm hỏng các thụ thể và khiến chúng tạm thời không phản ứng (Anand & Bley, 2011).

Chi ảo Phantom Limbs

Một số người cho biết các cảm giác liên tục, bao gồm cả đau, ở một chi khá lâu sau khi chi đó bị cắt cụt. Hiện tượng này, được gọi là chi ảo/chi ma (phantom limb), có thể kéo dài vài ngày, vài tuần hoặc vài năm sau khi cắt cụt chi (Ramachandran & Hirstein, 1998). Các bác sĩ và nhà tâm lý học từ lâu đã băn khoăn về nguyên nhân. Nghiên cứu vào những năm 1990 đã phát hiện ra vấn đề bên trong não bộ.

Hình 3.18 (trang 77) cho thấy đầu vào từ các vùng cơ thể khác nhau đến vỏ não somatosensory. ▼ Hình 4.27a lặp lại một phần của hình minh họa đó. Phần b cho thấy những gì xảy ra ngay sau khi bị cắt cụt tay: Vùng tay của vỏ não trở nên không hoạt động do các sợi trục của bàn tay không hoạt động. Khi thời gian trôi qua, các sợi trục từ mặt, thường chỉ kích thích vùng mặt của vỏ não, tăng cường kết nối với vùng tay gần đó của vỏ não (xem ▼ Hình 4.27c). Từ đó kích thích vùng mặt tiếp tục kích thích vùng mặt nhưng lúc này cũng kích thích vùng tay. Khi các sợi trục từ vùng mặt kích thích vùng bàn tay, chúng tạo ra trải nghiệm bàn tay – tức là chi ảo (Flor et al., 1995; Ramachandran & Blakeslee, 1998).

Có thể làm giảm cảm giác ảo: Những người học cách sử dụng tay hoặc chân giả bị mất ảo giác của họ (Lotze và cộng sự, 1999). Các khu vực liên quan của vỏ não bắt đầu phản ứng với chi giả và cảm giác này thay thế các cảm giác bất thường (Di Pino, Guglielmelli, & Rossini, 2009).

Source: Kalat, J. W. (2017). Introduction to psychology (11ed). Boston, MA: Cengage Learning.

Leave a Reply