Nguyên nhân nội tại và nguyên nhân ngoại tại

   Fritz Heider là cha đẻ của thuyết quy kết, ông nhấn mạnh sự khác biệt giữa nguyên nhân nội tại và ngoại tại dẫn của một hành vi nào đó. Quy kết nội tại là những giải thích dựa trên thái độ, đặc điểm tính cách, khả năng hoặc các phẩm chất khác của một ai đó. Quy kết ngoại tại là những lời giải thích dựa vào tình huống bao gồm các sự kiện có thể ảnh hưởng đến hầu hết mọi người. Một ví dụ về quy kết nội tại đó là việc nói rằng anh trai bạn đã đi bộ đi làm vào sáng nay “bởi vì anh ấy thích tập thể dục.” Ví dụ về quy kết ngoại tại là việc cho rằng anh trai bạn đi bộ là “bởi vì xe của anh ấy bị hỏng.” Quy kết nội tại nói cách khác có tính thuộc về khuynh hướng tâm lý (liên quan tới khuynh hướng tâm lý của một người nào đó). Quy kết ngoại tại có tính thuộc về hoàn cảnh (liên quan tới tình huống).

Internal versus External Causes.

   Fritz heider, the founder of attribution theory, emphasized the distinction between internal and external causes of behavior (heider, 1958). Internal attributions are explanations based on someone’s attitudes, personality traits, abilities, or other characteristics. External attributions are explanations based on the situation, including events that would influence almost anyone. An example of an internal attribution is saying that your brother walked to work this morning “because he likes the exercise.” An external attribution would be that he walked “because his car wouldn’t start.” Internal attributions are also known as dispositional (i.e., relating to the person’s disposition). External attributions are also known as situational (i.e., relating to the situation).

Bạn hình thành quy kết nội tại khi một hành động của ai đó khiến bạn ngạc nhiên. Ví dụ, bạn sẽ không đưa ra một kết luận nào nếu một ai đó chia sẻ rằng anh ta thích đi Hawaii. Tuy nhiên, nếu một ai đó thích đi tới Norway vào mùa đông, bạn sẽ gắng tìm kiếm một thông tin đặc biệt nào đó về người ấy. Khi một người đàn ông tức giận ở nơi công cộng, hầu hết mọi người cho rằng anh ấy có lí do của mình. Khi một người phụ nữ tức giận như vậy ở nơi công cộng, hành vi của cô ấy sẽ gây sự ngạc nhiên hơn và mọi người quy rằng đó là do tính cách của cô ấy (Brescoll & uhlmann, 2008).

Xu hướng này đôi lúc dẫn tới sự hiểu lầm giữa những thành viên của các nền văn hóa khác nhau. Mỗi người đều xem hành vi của người khác như là “điều mà tôi sẽ không bao giờ làm”, và vì vậy luôn có một lí do để quy kết về tính cách của người đó. Ví dụ, một số nền văn hóa sẽ kỳ vọng mọi người sẽ khóc rất to tại lễ tang trong khi những người khác mong đợi sự kiềm chế nhiều hơn. Những người mà không thân thuộc về một nền văn hóa nào đó có thể quy kết hành vi là do tính cách, trong khi thực sự đó là do khác biệt về văn hóa.

You make internal attributions when someone’s act surprises you. For example, you draw no conclusions about someone who would like to visit Hawaii. (After all, who wouldn’t?) however, if someone wants to visit northern Norway in winter, you look for something special about that person. When a man gets angry in public, most people assume he had a reason. When a woman gets equally angry in public, her behavior is more surprising, and people attribute it to her personality (Brescoll & uhlmann, 2008).

   This tendency sometimes leads to misunderstandings between members of different cultures. Each person views the other’s behavior as “something i would not have done” and therefore a reason to make an attribution about personality. For example, some cultures expect people to cry loudly at funerals, whereas others expect more restraint. people who are unfamiliar with other cultures may attribute a behavior to personality, when in fact it is a dictate of culture.

Source: https://www.leadingagile.com/

Harold Kelley đã đưa ra 3 loại thông tin có ảnh hưởng tới việc chúng ta đưa ra quy kết nội tại hay quy kết ngoại cảnh:

Thông tin liên ứng – consensus information (so sánh hành vi khác nhau của mọi người). Nếu một ai đó hành xử giống với niềm tin của bạn rằng người khác cũng sẽ hành động y như vậy trong hoàn cảnh đó, bạn sẽ đưa ra quy kết ngoại cảnh và thừa nhận rằng hành vi đó là do hoàn cảnh. Khi một hành vi dường như có tính bất thường, bạn sẽ tìm đến sự quy kết nội tại (bạn có thể gặp sai lầm nếu hiểu sai tình huống).

Thông tin nhất quán – Consistency information (hành vi của một người thay đổi từ lần này sang lần khác như thế nào). Nếu một ai đó gần như mọi lúc đều thân thiện, bạn quy kết nội tại đó là tính cách của người đó với “một người thân thiện”. Nếu sự thân thiện của một ai đó thay đổi, bạn sẽ đưa ra quy kết hoàn cảnh, ví dụ như một sự kiện khơi dậy một cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực.

Đặc điểm phân biệt – distinctiveness (Hành vi của một người thay đổi từ hoàn cảnh này sang hoàn cảnh khác). Nếu một người quen của bạn lúc nào cũng biểu hiện sự dễ chịu với tất cả nhưng trừ một người, bạn sẽ cho rằng người đó đã làm điều gì đó khiến người quen của bạn cáu giận (quy kết ngoại cảnh).

Harold Kelley (1967) proposed that three types of information influence us to make an internal or external attribution:

Consensus information (how the person’s behavior compares with other people’s behavior). if someone behaves the same way you believe other people would in the same situation, you make an external attribution, recognizing that the situation led to the behavior. When a behavior seems unusual, you look for an internal attribution. (you can be wrong if you misunderstand the situation.)

Consistency information (how the person’s behavior varies from one time to the next). If someone almost always seems friendly, you make an internal attribution (“friendly person”). if someone’s friendliness varies, you make an external attribution, such as an event that elicited a good or bad mood.

Distinctiveness (how the person’s behavior varies from one situation to another). if your friend is pleasant to all but one individual, you assume that person has done something to irritate your friend (an external attribution).

Leave a Reply